|
CHÍNH PHỦ
________
Số: 117/2009/NĐ-CP
|
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
____________________________________
Hà Nội,
ngày 31 tháng
12 năm 2009
|
NGHỊ ĐỊNH
Về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường
___________
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm
2001;
Căn cứ Luật Bảo vệ môi trường ngày 29
tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành
chính ngày 02 tháng 7 năm 2002; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp
lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 4 năm 2008;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên
và Môi trường,
NGHỊ ĐỊNH:
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH
CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
1. Nghị định này quy định về:
a) Các hành vi vi phạm hành chính trong
lĩnh vực bảo vệ môi trường, hình thức xử phạt, mức phạt, thẩm quyền, thủ tục xử
phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả;
b) Thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp
dụng hình thức xử lý tạm thời đình chỉ hoạt động, buộc di dời, cấm hoạt động đối
với cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gây ô nhiễm môi trường, gây ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng quy định tại Điều 49 Luật Bảo vệ môi trường; các biện pháp
cưỡng chế, thẩm quyền, thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết
định tạm thời đình chỉ hoạt động, buộc di dời, cấm hoạt động;
c) Biện pháp công khai thông tin về
tình hình ô nhiễm và vi phạm pháp luật của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ gây ô nhiễm môi trường, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
2. Vi
phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là những hành vi vi phạm các
quy định quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường do cá nhân, tổ chức
thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạm và theo quy định
tại Nghị định này phải bị xử phạt vi phạm hành chính. Vi phạm hành chính trong
lĩnh vực bảo vệ môi trường bao gồm:
a)
Các hành vi vi phạm các quy định về lập, thực hiện cam kết bảo vệ môi trường,
báo cáo đánh giá tác động môi trường, báo cáo đánh giá tác động môi trường bổ
sung (sau đây gọi chung là báo cáo đánh giá tác động môi trường), đề án bảo vệ
môi trường;
b) Các
hành vi gây ô nhiễm môi trường;
c)
Các hành vi vi phạm các quy định về quản lý chất thải;
d)
Các hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu
máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông vận tải, nguyên liệu, nhiên liệu, vật
liệu, phế liệu;
đ)
Các hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch,
bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên;
e)
Các hành vi vi phạm các quy định về thực hiện phòng, chống, khắc phục ô nhiễm,
suy thoái, sự cố môi trường và các hành vi vi phạm các quy định khác về bảo vệ
môi trường.
3. Các hành vi vi phạm hành chính khác trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường không trực tiếp quy định trong Nghị này thì áp dụng theo quy định
của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong các Nghị định khác có liên
quan.
Điều 2. Đối tượng bị xử lý vi
phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
1.
Đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính:
a) Cá
nhân, tổ chức trong nước và cá nhân, tổ chức nước ngoài (sau đây gọi chung là
cá nhân, tổ chức) có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường trên lãnh thổ Việt Nam đều bị xử phạt theo các quy định tại Nghị định
này hoặc các Nghị định có liên quan. Trong trường hợp Điều ước quốc tế mà Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là thành viên có quy định khác thì áp dụng theo quy định của Điều ước quốc tế
đó;
b) Cá
nhân là người chưa thành niên có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường thì bị xử phạt theo quy định tại Điều 7 Pháp lệnh Xử lý vi phạm
hành chính.
2. Cơ sở gây ô nhiễm môi trường, cơ sở
gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng bị áp dụng hình thức xử lý tạm thời đình
chỉ hoạt động, buộc di dời, cấm hoạt động theo quy định tại Chương III của Nghị
định này.
Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định tiêu
chí xác định cơ sở gây ô nhiễm môi trường, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
3. Cán bộ, công chức khi thực hiện
nhiệm vụ, công vụ mà có hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường thì
không bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Nghị định này mà bị xử lý
theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.
Điều 3. Hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm
hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
1. Đối với mỗi hành vi vi phạm hành
chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, cá nhân, tổ chức vi phạm phải chịu một
trong các hình thức xử phạt chính sau đây:
a) Cảnh cáo;
b) Phạt tiền.
Mức phạt tiền tối đa đối với một hành
vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là 500.000.000 đồng.
2. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm,
cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường còn có thể
bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:
a) Tước quyền sử dụng đối với Giấy
chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường, Giấy phép hành nghề vận chuyển và xử lý
chất thải nguy hại, Giấy phép xả nước thải vào nguồn nước và các loại giấy
phép, chứng chỉ hành nghề có nội dung liên quan về bảo vệ môi trường (sau đây
gọi chung là giấy phép, chứng chỉ hành nghề);
b) Tịch thu tang vật, phương tiện được
sử dụng để vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
3. Ngoài các hình thức xử phạt quy định
tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong lĩnh
vực bảo vệ môi trường còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục
hậu quả sau đây:
a) Buộc thực hiện biện pháp giảm thiểu
tiếng ồn, độ rung, xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi
trường;
b) Buộc phục hồi môi trường; buộc thực thực
hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm, lây lan dịch bệnh và các biện
pháp bảo vệ môi trường khác theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường;
c) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái
xuất hàng hóa, máy móc, thiết bị phương tiện, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu
phế liệu, vật phẩm và phương tiện nhập khẩu, đưa vào trong nước không đúng quy
định về bảo vệ môi trường hoặc gây ô nhiễm môi trường;
d) Buộc tiêu hủy pháo nổ, hàng hóa, vật phẩm gây ô
nhiễm môi trường; sinh vật ngoại lai xâm hại; sinh vật biến đổi gen và các sản
phẩm của chúng;
đ) Buộc thực hiện đúng, đầy đủ các nội dung trong báo
cáo đánh giá tác động môi trường và các yêu cầu trong quyết định phê duyệt báo
cáo đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường, đề án bảo vệ môi
trường;
e) Buộc vận hành đúng quy trình đối với công trình xử
lý môi trường; buộc xây lắp công trình xử lý môi trường; buộc tháo dỡ công
trình xử lý môi trường xây không đúng nội dung trong báo cáo đánh giá tác động
môi trường và các yêu cầu trong quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động
môi trường, cam kết bảo vệ môi trường, đề án bảo vệ môi trường;
g) Buộc thực hiện đúng quy định về khoảng cách an toàn
về môi trường đối với khu dân cư;
h) Buộc chấm dứt các hoạt động trái phép, di dời ra
khỏi khu vực cấm do mức độ đặc biệt nguy hiểm về môi trường đối với sức khỏe và
tính mạng con người; buộc di dời cây trồng gây ảnh hưởng đến hành lang an toàn
kỹ thuật của công trình bảo vệ môi trường.
i) Buộc thu hồi, xử lý sản phẩm
hết hạn sử dụng hoặc thải bỏ theo quy định.
k) Buộc thực hiện đúng quy định về ký quỹ cải tạo,
phục hồi môi trường và bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường;
l) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay
đổi do vi phạm hành chính gây ra;
m) Các biện pháp khắc phục hậu quả khác được quy định
tại Chương II Nghị định này.
Điều 4. Hình thức xử lý cơ sở sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ gây ô nhiễm môi trường, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Cơ sở gây ô nhiễm môi trường, gây ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thì
bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường theo quy định
tại Nghị định này. Ngoài ra, cơ sở gây ô nhiễm môi trường, gây ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng còn bị áp dụng một trong các hình thức xử lý sau:
1. Tạm thời đình chỉ hoạt động cho đến khi thực hiện
xong các biện pháp bảo vệ môi trường cần thiết;
2. Buộc di dời cơ sở đến vị trí xa khu dân cư và phù
hợp với sức chịu tải của môi trường;
3. Cấm hoạt động;
4. Bị công khai thông tin về tình hình
ô nhiễm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trên trang thông tin điện tử
của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi
trường; Báo Tài nguyên và Môi trường và thông báo trên các phương tiện thông
tin đại chúng khác.
Điều 5. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, thời hạn được coi là chưa bị xử
phạt vi phạm hành chính
1. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là hai năm, kể từ ngày hành vi vi phạm hành
chính được thực hiện; nếu quá thời hạn trên thì không xử phạt, nhưng vẫn áp
dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Nghị định này.
2. Đối với cá nhân bị khởi tố, truy tố
hoặc có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự mà có quyết
định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án mà hành vi vi phạm có dấu hiệu vi
phạm hành chính về bảo vệ môi trường theo quy định tại Nghị định này thì trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra quyết định đình
chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, người đã ra quyết định phải gửi quyết định cho
người có thẩm quyền xử phạt; trong trường hợp này, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là ba tháng, kể
từ ngày người có thẩm quyền nhận được quyết định đình chỉ và hồ sơ vụ vi phạm.
3. Trong thời hạn quy định tại khoản 1
và khoản 2 Điều này mà cá nhân, tổ chức có vi phạm hành chính mới trong lĩnh
vực bảo vệ môi trường hoặc cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì không
áp dụng thời hiệu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này. Thời hiệu xử phạt
vi phạm hành chính đối với các trường hợp trên được tính lại, kể từ thời điểm
thực hiện vi phạm hành chính mới hoặc kể từ thời điểm chấm dứt hành vi cố tình
trốn tránh, cản trở việc xử phạt.
4. Cá nhân, tổ
chức bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nếu quá một
năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hoặc từ ngày hết thời hiệu
thi hành quyết định xử phạt mà không tái phạm thì được coi như chưa bị xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Điều 6. Áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi trường và sử dụng thông số môi
trường để xác định hành vi vi phạm hành chính, mức độ vi phạm hành chính trong
lĩnh vực bảo vệ môi trường
1. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia được sử
dụng để xác định hành vi vi phạm hành chính và mức độ vi phạm hành chính trong
lĩnh vực bảo vệ môi trường; trường hợp có cả quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy
chuẩn kỹ thuật địa phương thì áp dụng quy chuẩn kỹ thuật địa phương; trường hợp
chưa có quy chuẩn kỹ thuật thì áp dụng tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng.
Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy
chuẩn kỹ thuật địa phương về môi trường bao gồm quy chuẩn kỹ thuật về chất thải
và quy chuẩn kỹ thuật về môi trường xung quanh.
2. Số lần vượt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ
thuật được xác định trên cơ sở lấy kết quả quan trắc, giám sát có giá trị cao
nhất của một trong các thông số môi trường theo quy định của tiêu chuẩn bắt
buộc áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật (sau đây gọi chung là tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ
thuật).
..........